Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia phải bảo đảm mọi học sinh có cơ hội tiếp cận
Theo Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao chủ quản nhiệm vụ “Phát triển nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát và hệ thống thực - ảo”.
Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) được định hướng hỗ trợ học sinh tự học theo năng lực, hỗ trợ giáo viên trong dạy học và cung cấp dữ liệu phục vụ quản lý giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả của nền tảng không chỉ được đánh giá bằng công nghệ mà phải thể hiện ở chất lượng học tập, khả năng giảm tải cho giáo viên, an toàn dữ liệu và cơ hội tiếp cận công bằng của học sinh ở mọi vùng miền.
*Gia sư AI tiếng Việt và không gian thực - ảo Eduverse
Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trần Nam Tú cho biết, nhiệm vụ hướng tới nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi về AI giáo dục có kiểm soát và công nghệ thực - ảo; xây dựng một nền tảng giáo dục thông minh quốc gia dùng chung và hai sản phẩm công nghệ chiến lược là Gia sư AI tiếng Việt và Hệ thống thực - ảo Eduverse đạt mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 7.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp được tuyển chọn hoặc giao thực hiện.
Các sản phẩm công nghệ chiến lược phải được thử nghiệm có kiểm soát và chứng minh hiệu quả; đồng thời bảo đảm chủ quyền dữ liệu, tự chủ công nghệ, khả năng nhân rộng và thương mại hóa. Ba nhóm công nghệ lõi được tập trung phát triển gồm AI giáo dục có kiểm soát; công nghệ thực - ảo và mô phỏng số; hạ tầng dữ liệu và chuẩn liên thông.
Nếu được triển khai hiệu quả, nền tảng có thể tác động trực tiếp đến nhiều chủ thể trong hệ thống giáo dục.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Dũng, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, nền tảng học tập thông minh số có thể giúp học sinh tự học có hướng dẫn, giải đáp thắc mắc và gợi ý lộ trình phù hợp với năng lực. Giáo viên có thể sử dụng nền tảng để hỗ trợ soạn bài, ra đề, chấm bài và theo dõi những phần kiến thức từng học sinh còn yếu.
Ở cấp nhà trường và cơ quan quản lý, dữ liệu kết quả học tập có thể được tổng hợp để hỗ trợ điều chỉnh hoạt động dạy học. Phụ huynh cũng có thể theo dõi tiến độ học tập của con và nhận thông báo khi học sinh cần thêm sự hỗ trợ.
Tuy nhiên, đưa công nghệ vào trường học không thể chỉ dừng ở việc tạo ra thêm công cụ.
Tiến sĩ Lê Thị Thanh Tịnh, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng cho rằng, ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập cần gắn với cam kết kết quả học tập phải tốt hơn. Vì vậy, khi xây dựng các nền tảng, sản phẩm cần đồng thời xác định những kịch bản tổ chức, triển khai và vận hành trong thực tế.
Tiến sĩ Lê Thị Thanh Tịnh cũng lưu ý yêu cầu về an toàn, bảo mật trong quá trình triển khai nền tảng, bảo đảm việc ứng dụng công nghệ được kiểm soát cả về thông tin, đạo đức và công nghệ.
Cùng quan điểm phải đo lường được tác động, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chia sẻ, quá trình xây dựng và triển khai cần có những đánh giá cụ thể, bao gồm cả kết quả tích cực và những tác động trở lại. Trên cơ sở đó mới có thể xây dựng giải pháp tổng thể, có đo lường và đối sánh.
Yêu cầu kiểm soát công nghệ còn cần được đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nhóm người học. Trường Trung học phổ thông Phan Huy Chú là một trong 10 cơ sở giáo dục được lựa chọn thí điểm nền tảng, sản phẩm tại Hà Nội. Từ góc độ nhà trường, Phó Hiệu trưởng Ngô Thị Thành cho rằng, thiết kế nội dung cũng như cơ chế kiểm soát công nghệ cần phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi và mức độ nhận thức, đồng thời có khả năng thu hút, tạo hứng thú học tập cho học sinh.
*Công nghệ phải phục vụ công bằng giáo dục
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng, xây dựng nền tảng giáo dục thông minh quốc gia cần hướng tới đổi mới phương thức dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục. Đây là nhiệm vụ có tác động sâu rộng, vì vậy cần được nghiên cứu và đánh giá tác động một cách nghiêm túc, toàn diện.
Một trong những thước đo quan trọng của nền tảng là lợi ích thực tế đối với người học và nhà giáo. Nền tảng phải góp phần nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, giảm thời gian học tập không cần thiết, hỗ trợ giảm tải công việc cho giáo viên, đồng thời bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Thứ trưởng Phạm Quang Hưng nhấn mạnh, học sinh ở mọi vùng miền, kể cả vùng sâu, vùng xa và những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đều cần có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng lợi ích do công nghệ mang lại. Đây không chỉ là yêu cầu về công nghệ mà còn là yêu cầu về công bằng giáo dục, nhất quán với tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau.
Trong giai đoạn đầu, giáo dục phổ thông được xác định là lĩnh vực cần ưu tiên bởi có số lượng người học lớn, phạm vi tác động rộng, đồng thời còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu kỹ để bảo đảm hiệu quả thực chất. Trên cơ sở kết quả triển khai, những bài toán thiết thực, có khả năng thực hiện và đo lường hiệu quả sẽ được lựa chọn để từng bước nhân rộng.
Cùng với hiệu quả giáo dục, một yêu cầu quan trọng khác là khả năng phát triển lâu dài của nền tảng. Đây không phải một sản phẩm hoàn thành sau một chu kỳ nghiên cứu mà cần có khả năng vận hành ổn định, liên tục cập nhật và nâng cấp theo yêu cầu thực tiễn.
Do đó, kế hoạch tổng thể cần xác định rõ kiến trúc hệ thống, các sản phẩm ưu tiên, phương thức hợp tác, nguồn lực đầu tư, lộ trình triển khai và phương án vận hành.
Đặc biệt, trước tốc độ phát triển nhanh của AI, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các sản phẩm trí tuệ nhân tạo và công nghệ giáo dục mới được đặt ra như một yêu cầu quan trọng. Cơ chế này cho phép thử nghiệm, đánh giá hiệu quả và nhận diện rủi ro trước khi một sản phẩm được triển khai ở quy mô rộng.
Quá trình phát triển nền tảng cũng đòi hỏi xác định rõ vai trò của “ba nhà”: Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng cơ chế và những yêu cầu chung; nhà trường cung cấp môi trường thực tiễn để công nghệ được thử nghiệm, đánh giá; các trường đại học, nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ, sản phẩm cũng như đóng góp nguồn lực.
Thứ trưởng Phạm Quang Hưng đề nghị các trường đại học và doanh nghiệp chủ động đề xuất sản phẩm, công nghệ, nội dung có thể phối hợp nghiên cứu, phát triển.
Với phạm vi tác động tới học sinh, giáo viên, phụ huynh, nhà trường và cơ quan quản lý, giá trị của nền tảng giáo dục thông minh quốc gia cuối cùng không chỉ nằm ở mức độ tiên tiến của công nghệ. Điều quan trọng là công nghệ phải chứng minh được khả năng cải thiện kết quả học tập, hỗ trợ giáo viên, bảo đảm an toàn dữ liệu và tạo cơ hội thụ hưởng công bằng cho người học. Đây cũng là những điều kiện để AI trở thành công cụ phục vụ đổi mới giáo dục thay vì chỉ là một lớp công nghệ mới được bổ sung vào hệ thống./.



