Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới (phần I)
Ngày 19/5/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới. Đây là văn kiện mang tầm vóc lịch sử, xác định nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng không chỉ của Đảng bộ, chính quyền thành phố mà của cả hệ thống chính trị cả nước.
Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:
NGHỊ QUYẾT
CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới
I- TÌNH HÌNH
Sau hơn 50 năm xây dựng và phát triển kể từ ngày vinh dự được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt qua hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII, Thành phố Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; là đầu tàu tăng trưởng và cực phát triển quan trọng của đất nước; đời sống Nhân dân được nâng lên; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường.
Tuy nhiên, phát triển của Thành phố chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu đặt ra; các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và quản trị đô thị chậm được tháo gỡ; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; một số vấn đề về xã hội và môi trường chưa được giải quyết hiệu quả.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò là một đô thị đặc biệt; tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
(1) Xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, nhất là Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố với phương châm: "Thành phố Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì Thành phố Hồ Chí Minh".
(2) Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách đồng bộ, đột phá, vượt trội, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để, tạo điều kiện thúc đẩy đô thị đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng phát triển năng động của Việt Nam trong thế kỷ XXI; nơi hội tụ khát vọng phát triển, năng lực cạnh tranh toàn cầu và tinh thần đổi mới sáng tạo của đất nước; khẳng định vai trò đi trước, làm mẫu; dẫn đầu về kiến tạo thể chế và chất lượng phát triển, chuẩn mực quản trị; là đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quan trọng của cả nước.
(3) Xác lập mô hình phát triển mới; huy động sức mạnh tổng hợp, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, vị trí chiến lược, sớm khẳng định là trung tâm kinh tế - tài chính mạnh, văn hóa giàu bản sắc và nhân văn, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phát triển của khu vực Đông Nam Á và châu Á, có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
(4) Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị Thành phố đoàn kết, gương mẫu, trong sạch, vững mạnh toàn diện, tiêu biểu về năng lực lãnh đạo, đổi mới sáng tạo, kỷ luật công vụ và sức chiến đấu để thực hiện sứ mệnh phát triển Thành phố. Xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, có tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, trình độ cao, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
(5) Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn Thành phố, vai trò chủ thể của Nhân dân trong mọi quyết sách phát triển Thành phố. Nhân dân là người đầu tiên thụ hưởng thành quả của sự phát triển bền vững của Thành phố; lấy sự hài lòng, cuộc sống ấm no và hạnh phúc của Nhân dân là thước đo hiệu quả lãnh đạo.
2. Mục tiêu
Đến năm 2030: Thành phố là đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo, trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, logistics, hội nhập quốc tế, năng động, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á.
Đến năm 2045: Thành phố là đô thị văn minh, hiện đại, năng động, sáng tạo; trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của châu Á, là điểm đến hấp dẫn toàn cầu, văn hóa, xã hội phát triển đặc sắc, chất lượng cuộc sống cao, hội nhập quốc tế sâu rộng.
Hướng đến 100 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 2075: Thành phố là đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị phát triển trên thế giới, tăng trưởng xanh, bền vững, chất lượng cuộc sống cao, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.
3. Chỉ tiêu
Giai đoạn 2026 - 2030: Tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 14.000USD. Kinh tế số chiếm khoảng 40% GRDP. Hoàn thành khoảng 200km đường sắt đô thị. Chỉ số phát triển con người HDI đạt khoảng 0,9. Thành phố cơ bản giải quyết tình trạng úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và không ma túy.
Giai đoạn 2031 - 2035: Tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2035, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 25.000USD. Kinh tế số chiếm khoảng 60% GRDP. Tiếp tục duy trì chỉ số phát triển con người HDI tối thiểu đạt 0,9.
Giai đoạn 2036 - 2045: Tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm. Đến năm 2045, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 75.000USD. Tiếp tục duy trì chỉ số phát triển con người HDI tối thiểu đạt 0,9. Hoàn thành kết nối hệ thống đường sắt đô thị. Đạt mức phát thải ròng bằng "0".
Giai đoạn 2046 - 2075: Tăng trưởng GRDP tối thiểu 6%/năm. Đến năm 2075, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 100.000USD. Các chỉ số bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và chỉ số phát triển con người HDI đạt trên 0,9.
III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh
- Phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, liên kết vùng và quản trị đô thị hiện đại dựa trên nền tảng kinh tế tri thức, chuyển đổi số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất. Tiên phong về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thành phố, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc. Tăng cường, nâng cao chất lượng liên kết viện - trường - doanh nghiệp.
- Triển khai chiến lược dữ liệu, tập trung tạo lập, kết nối liên thông dữ liệu, quản trị Thành phố thông minh trên cơ sở dữ liệu, xây dựng dữ liệu trở thành nguồn lực trong mô hình phát triển Thành phố. Xây dựng, tăng cường năng lực làm chủ hệ thống cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ mạnh, tập trung cho công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ năng lượng sạch, công nghệ vật liệu mới, công nghệ cho kinh tế biển, kinh tế xanh. Phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo mang tầm quốc gia, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu, phát triển, ưu tiên thu hút các dự án đầu tư có công nghệ mới, hiện đại, thân thiện với môi trường. Có chính sách đặc thù thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệ lõi, công nghệ nguồn trong các ngành kinh tế chủ lực với hạt nhân là khu công nghệ cao, các khu công nghệ số tập trung, khu đô thị khoa học - công nghệ, các viện nghiên cứu, trường đại học. Phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học - công nghệ; thu hút các tập đoàn đa quốc gia thành lập các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, phát triển, chuyển giao và làm chủ công nghệ tại Thành phố. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế mua sắm tài sản công, đặt hàng đào tạo và quản lý, khai thác tài sản công trong lĩnh vực khoa học, công nghệ; có cơ chế ưu đãi cho các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hình thành hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới sáng tạo dùng chung.
- Phát triển mạnh kinh tế biển theo hướng đa ngành, hiện đại và bền vững, tập trung vào cảng biển, logistics và dịch vụ hàng hải quốc tế, dầu khí, năng lượng, du lịch biển, đảo chất lượng cao và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao. Hình thành trung tâm kinh tế biển quốc gia với kinh tế hàng hải và logistics, dầu khí - năng lượng - năng lượng tái tạo, du lịch và đô thị biển phát triển theo hướng bền vững, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, hướng tới vai trò đầu tàu kinh tế biển của cả nước.
- Hình thành các trung tâm tài chính, logistics tầm khu vực và quốc tế. Xây dựng Thành phố trở thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực với các ngành dịch vụ cao cấp, hiện đại. Thành lập và phát triển khu thương mại tự do kết nối các trung tâm liên vùng về logistics, các cụm cảng, cảng trung chuyển quốc tế và sân bay hàng hóa. Xây dựng và vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng thế hệ mới tại Thành phố Hồ Chí Minh, tăng cường kết nối sâu rộng với thị trường vốn quốc tế. Đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển du lịch đẳng cấp quốc tế, là điểm đến hàng đầu châu Á.
- Nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp công nghệ cao. Phát triển nông nghiệp đô thị, sinh thái. Hoàn thiện các chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp chủ lực. Xây dựng nông thôn phát triển toàn diện, bền vững gắn với đô thị hóa.
2. Xây dựng thể chế đột phá, vượt trội phát triển Thành phố trong kỷ nguyên mới
- Xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt nhằm tạo thể chế đặc biệt vượt trội, khung pháp lý đồng bộ, phù hợp, trở thành "đột phá của đột phá", tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh khai thác tối đa hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, huy động mọi nguồn lực tăng tốc, phát triển nhanh và bền vững.
- Phân cấp, phân quyền triệt để cho Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố trong các lĩnh vực (trừ các nội dung về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo), tăng cường thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu các cấp gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực. Thành phố chủ động ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, bộ, ngành trong một số lĩnh vực theo phân quyền hoặc khi chưa có quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh những vấn đề phát sinh từ thực tiễn của Thành phố. Thành phố được ưu tiên lựa chọn áp dụng các quy định pháp luật thuận lợi hơn đối với các lĩnh vực theo đặc thù của địa phương.
- Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách mang tính đột phá và ưu tiên bố trí nguồn ngân sách nhà nước trung hạn và hàng năm (dự toán và tăng thu thực hiện) để Thành phố chủ động có đủ nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển các dự án hạ tầng trọng điểm và nâng cao phúc lợi của người dân.
- Thành phố được chủ động thí điểm cơ chế, chính sách mới, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) hoặc khác với quy định của pháp luật; xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng chung, khuyến khích những tiêu chuẩn, quy chuẩn tiến bộ, vượt trội hơn quy chuẩn quốc gia và các địa phương khác. Thành phố quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự cho phép thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và mô hình phát triển mới; xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia thử nghiệm; chính sách khuyến khích, hỗ trợ, tài trợ. Triển khai xã hội hóa có kiểm soát một số khâu chuyên môn trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, cho phép huy động các tổ chức tư vấn, dịch vụ công đủ điều kiện tham gia thực hiện, bảo đảm rút ngắn thời gian, hiệu quả, không tăng biên chế với chi phí dịch vụ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, công khai, minh bạch và bảo đảm quyền lựa chọn của người dân, doanh nghiệp.
3. Quy hoạch phát triển Thành phố với tầm nhìn dài hạn, ổn định, thích ứng với biến đổi khí hậu
- Xây dựng quy hoạch tổng thể Thành phố bằng tư duy đột phá với tầm nhìn dài hạn 100 năm nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, tạo không gian và động lực phát triển mới, ổn định, lâu dài, nâng cao năng lực chống chịu biến đổi khí hậu cho Thành phố, vùng Thành phố Hồ Chí Minh. Quy hoạch không gian phát triển thành phố theo tư duy đa cực, tích hợp, kết nối, vận hành theo mô hình quản trị đa trung tâm, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữa phát triển hiện đại và bảo tồn, lưu giữ các giá trị truyền thống. Thực hiện đồng bộ quy hoạch phát triển các loại hình không gian: Ngầm, xanh, sông nước, biển, tầm thấp, tầm cao. Quy hoạch có tính liên thông, kết nối các khu vực: Trung tâm Thành phố, ven sông, ven biển, các mô hình phát triển đô thị gắn kết với giao thông công cộng (TOD). Thực thi quy hoạch tích hợp ngành gắn với phương thức tạo quỹ đất, tài chính đô thị, phát triển giao thông, chính sách nhà ở, quản lý tài nguyên nước và chống ngập nước.
- Quy hoạch, phát triển một số đô thị mới là vệ tinh của vùng đô thị trung tâm Thành phố theo hướng hiện đại, thông minh, môi trường sinh thái tốt, số hóa tối đa, hạ tầng đồng bộ, hình thành đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, để mở rộng không gian phát triển của Thành phố, trở thành các đô thị kiểu mẫu về chất lượng sống hàng đầu Việt Nam và khu vực.
- Tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng, đầu tư hoàn thiện hệ thống kỹ thuật chung đô thị theo quy hoạch. Ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị Thành phố, phát triển hạ tầng kết nối cảng biển - sân bay - khu công nghiệp - khu thương mại tự do. Ưu tiên triển khai các dự án đầu tư cải tạo, xây dựng đồng bộ hệ thống chống ngập quy mô lớn nhằm khắc phục tình trạng ngập lụt do triều cường trên địa bàn Thành phố. Thành phố chủ động quy hoạch, phát triển hạ tầng năng lượng, năng lượng tái tạo, viễn thông đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển. Hoàn thành xây dựng các tuyến đường quốc lộ và hệ thống đường kết nối nội vùng, liên vùng theo quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các dự án trọng điểm quốc gia.
- Hoàn thành cụm cảng Cái Mép Hạ, Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, mạng lưới đường sắt kết nối vùng Thành phố Hồ Chí Minh; khai thác hiệu quả mạng lưới đường sắt đô thị, luồng tàu đường biển, đường sông, bảo đảm kết nối liên hoàn với các tỉnh Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
- Ưu tiên bố trí nguồn lực để thúc đẩy liên kết vùng, hình thành Quỹ phát triển vùng; chủ trì phối hợp đầu tư phát triển các hành lang kinh tế, vành đai kinh tế theo quy hoạch; hình thành không gian phát triển vùng Thành phố Hồ Chí Minh, trọng tâm là tổ chức không gian phát triển, phát triển chuỗi giá trị, kết nối giao thông và bảo vệ môi trường. Hình thành cơ chế điều phối vùng trên nguyên tắc cùng phát triển, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm cùng vai trò dẫn dắt, hạt nhân của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thực hiện các đột phá chiến lược cho vùng Thành phố Hồ Chí Minh, các khu vực, địa phương và cả nước.
4. Huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển Thành phố nhanh và bền vững
- Xây dựng cơ chế nhằm phát huy mạnh mẽ kinh tế tư nhân trong việc tham gia đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, chương trình khởi nghiệp. Hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có năng lực cạnh tranh, quy mô lớn, tầm vóc quốc gia và khu vực. Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo định hướng tập trung vào vai trò tiên phong kiến tạo, dẫn dắt các lĩnh vực then chốt tham gia vào quá trình cơ cấu lại kinh tế thành phố, tham gia đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, quản trị hiện đại và có tác động lan tỏa, kết nối chặt chẽ với kinh tế trong nước. Phát triển công nghiệp hỗ trợ kết nối doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp FDI. Thực hiện có hiệu quả hợp tác công tư trong huy động nguồn vốn xã hội và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng công nghiệp, dịch vụ.
- Xây dựng cơ chế khai thác nguồn lực từ đất đai trên cơ sở thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả nhằm tạo nguồn lực đầu tư phát triển. Thành phố được quyền huy động vốn để triển khai các dự án trọng điểm (thông qua phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình, vay các tổ chức tài chính trong nước, quốc tế...); quyết định các biện pháp, chính sách đặc biệt khác với quy định pháp luật để tháo gỡ vướng mắc các dự án chậm triển khai, sớm đưa vào thực hiện nhằm khơi thông, phát huy hiệu quả nguồn lực. Thành phố chủ động rà soát, xử lý và khai thác hiệu quả các cơ sở nhà, đất do các cơ quan Trung ương quản lý trên địa bàn nhưng sử dụng không hiệu quả, lãng phí, không đúng mục đích,... nhằm ưu tiên phục vụ cho phát triển hạ tầng, nhà ở xã hội và tạo nguồn lực đầu tư phát triển.
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, đạt trình độ quốc tế ở các lĩnh vực ưu tiên. Thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới. Xây dựng chính sách phát huy nguồn kiều hối trong tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn lợi nhuận chưa chuyển về nước để tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
- Ưu tiên bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước và cho phép Thành phố áp dụng các cơ chế tài chính vượt trội để huy động tổng thể các nguồn lực khác đáp ứng các mục tiêu phát triển của Thành phố bảo đảm hiệu quả. Thành phố quyết định điều hành linh hoạt ngân sách phục vụ yêu cầu phát triển Thành phố như cân đối giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Xây dựng cơ chế đặc thù, phát huy, sử dụng hiệu quả các quỹ dự trữ tài chính, đầu tư, phát triển đô thị.
(Còn tiếp phần II)
