Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, trùng lặp nhiệm vụ, tập trung đầu tư cho các lĩnh vực trọng tâm và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đây là nội dung trọng tâm của Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026-2035” được phê duyệt tại Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 8/10/2026.
Theo ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), giai đoạn 2016-2025, với khoảng 42 chương trình, cả nước đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống WOS và Scopus, đào tạo 1.579 tiến sĩ. Những kết quả này góp phần nâng cao tiềm lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ.
Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ những hạn chế như nguồn lực còn phân tán, nhiều chương trình và nhiệm vụ có quy mô nhỏ, nội dung hoặc mục tiêu giao thoa. Sự liên thông giữa nghiên cứu với phát triển công nghệ, hình thành sản phẩm, ứng dụng và thương mại hóa chưa thực sự hiệu quả. Công tác quản lý còn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, chưa chú trọng đầy đủ việc đánh giá hiệu quả và tác động thực tế.
Để khắc phục những bất cập này, Đề án xác định việc tái cấu trúc các chương trình cần chuyển từ quản lý theo nhiệm vụ sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động thực tế. Hệ thống chương trình được tổ chức lại thành 6 nhóm gồm: Phát triển tiềm lực; nghiên cứu cơ bản; chương trình trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo; chương trình quốc gia đặc biệt; chuyển đổi số quốc gia.
Trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ rà soát, tổ chức lại 33 chương trình, trong đó có 25 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và 8 chương trình thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.
Quá trình này được thực hiện qua 4 bước: Đánh giá sự cần thiết, kết quả, hiệu quả và mức độ trùng lặp giữa các chương trình; xây dựng phương án tổ chức lại, xác định mục tiêu, phạm vi, sản phẩm đầu ra và phương án xử lý; trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; tổ chức thực hiện và chuyển tiếp, bảo đảm xử lý phù hợp các nhiệm vụ, hợp đồng, kinh phí, tài sản và kết quả nghiên cứu đã hình thành.
Trên cơ sở đánh giá, các chương trình có thể được tiếp tục triển khai, điều chỉnh, tích hợp, thay thế hoặc kết thúc. Việc tổ chức lại phải bảo đảm khách quan, khoa học, đúng thẩm quyền và không làm gián đoạn các nhiệm vụ đã được phê duyệt.
Đề án cũng đặt ra các chỉ tiêu cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp. Đến năm 2030, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện; tỷ lệ này tăng lên 60% vào năm 2035. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế phấn đấu đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035.
Về phát triển đội ngũ nghiên cứu, Đề án đặt mục tiêu hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035. Đến năm 2030, phấn đấu hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chiến lược; đến năm 2035 có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp. Số doanh nghiệp làm chủ công nghệ đạt ít nhất 20 doanh nghiệp vào năm 2030 và 30 doanh nghiệp vào năm 2035.
Cùng với việc tổ chức lại các chương trình, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo mô hình IOI với 4 cấp độ: đầu vào, đầu ra, hiệu quả và tác động. Trong đó, đánh giá đầu vào tập trung vào kinh phí, nhân lực và hạ tầng nghiên cứu; đầu ra xem xét công nghệ, sáng chế và sản phẩm được tạo ra; cấp độ hiệu quả đánh giá khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu; cấp độ tác động xem xét đóng góp của chương trình đối với năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Hoàng Anh Tú, việc tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia cũng giúp đổi mới phương thức tổ chức, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ. Qua đó, tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, thúc đẩy làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm và nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với phát triển đất nước./.

