Hiệu quả của 5G được thể hiện qua khả năng nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng dịch vụ, tối ưu chi phí và tạo ra các mô hình sản xuất, kinh doanh mới.
Sau giai đoạn đầu tư, xây dựng và mở rộng mạng lưới, Việt Nam đang chuyển trọng tâm phát triển 5G từ mục tiêu gia tăng độ phủ sóng sang khai thác hiệu quả hạ tầng, thúc đẩy ứng dụng trong các ngành kinh tế và tạo ra giá trị thực chất cho xã hội.
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, việc phát triển 5G gắn với làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất và hình thành các mô hình kinh tế mới được đặt ra như một yêu cầu chiến lược, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam chủ động chuẩn bị cho thế hệ mạng 6G.
*Hình thành hệ sinh thái ứng dụng 5G
Theo số liệu được công bố tại Hội nghị ASEAN về 5G lần thứ 7, tổ chức ngày 29/10/2026 tại Quảng Ninh trong khuôn khổ Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam 2026, đến cuối năm 2025, tỷ lệ dân số Việt Nam được phủ sóng 5G đạt 90,2%; đến tháng 3/2026, cả nước có 22,41 triệu thuê bao 5G. Những con số này cho thấy quy mô phát triển hạ tầng và thị trường 5G tại Việt Nam đã có bước chuyển rõ rệt.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long, sau giai đoạn đầu tư và triển khai mạng lưới, thách thức lớn nhất hiện nay là chuyển năng lực kết nối thành giá trị kinh tế, xã hội. Độ phủ sóng rộng và chất lượng mạng tốt là những điều kiện quan trọng nhưng chưa đủ; hiệu quả của 5G phải được thể hiện qua khả năng nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng dịch vụ, tối ưu chi phí và tạo ra các mô hình sản xuất, kinh doanh mới.
Đây cũng là hướng tiếp cận có ý nghĩa trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW. Phát triển hạ tầng viễn thông thế hệ mới không chỉ phục vụ nhu cầu kết nối mà cần trở thành nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong toàn bộ nền kinh tế. Giá trị của 5G vì vậy không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng trạm phát sóng hay tốc độ truy cập Internet, mà cần gắn với năng lực giải quyết các bài toán thực tiễn của doanh nghiệp, cơ quan quản lý và người dân.
Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, 5G mở ra khả năng triển khai các hệ thống thị giác máy kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để kiểm tra chất lượng sản phẩm, robot di động, xe tự hành trong nhà máy và cảm biến phục vụ bảo trì dự đoán. Đặc biệt, mạng 5G riêng (Private 5G) tại nhà máy và khu công nghiệp có thể đáp ứng yêu cầu kết nối ổn định, độ trễ thấp và trao đổi dữ liệu theo thời gian thực.
Mạng 5G riêng tại Công ty cổ phần Xi măng VICEM Hoàng Mai do MobiFone triển khai, các dự án tại VinFast và Toshiba ASEAN ở Hải Phòng, cùng sáng kiến nhà máy thông minh của Foxconn là những ví dụ về tiềm năng đưa công nghệ 5G vào môi trường sản xuất có yêu cầu cao về kết nối và tự động hóa.
Trong lĩnh vực đô thị thông minh, giao thông và hạ tầng, 5G có thể hỗ trợ hệ thống camera AI phát hiện sự cố, giám sát lưu lượng phương tiện, cảm biến theo dõi tình trạng ngập lụt và chất lượng không khí, giám sát công trình cũng như truyền hình ảnh từ thiết bị bay không người lái phục vụ ứng phó khẩn cấp và tìm kiếm cứu nạn. Các dự án cảng thông minh tại Lạch Huyện (Hải Phòng), Lào Cai và Lạng Sơn mở ra cơ hội ứng dụng công nghệ số trong logistics và vận tải.
Ở khu vực nông nghiệp, việc kết nối cảm biến, hệ thống phân tích hình ảnh và các thiết bị giám sát qua mạng 5G có thể góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng. Những mô hình được giới thiệu gồm chăn nuôi thông minh tại Tam Điệp (Ninh Bình), chuỗi nông nghiệp an toàn tại Đà Lạt (Lâm Đồng) và nuôi trồng thủy sản thông minh tại Khánh Hòa. Công nghệ cũng mở ra tiềm năng giám sát chất lượng nông sản xuất khẩu tại Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng trồng cây ăn quả phía Bắc.
Trong y tế, 5G có thể hỗ trợ khám, chữa bệnh từ xa, kết nối thiết bị y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh. Đối với giáo dục và du lịch, công nghệ này tạo điều kiện phát triển các dịch vụ số có tính tương tác cao, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng địa bàn.
*Chủ động chuẩn bị cho 6G
Giai đoạn tới, định hướng phát triển 5G tại Việt Nam được đặt ra theo hướng khai thác sâu hơn hạ tầng đã đầu tư, đồng thời mở rộng hệ sinh thái ứng dụng trong các lĩnh vực có nhu cầu lớn. Theo đại diện Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2027-2030 sẽ tập trung gia tăng giá trị từ 5G thông qua ứng dụng trong sản xuất công nghiệp, đô thị thông minh, giao thông, nông nghiệp, y tế và giáo dục.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường sự phối hợp giữa doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghệ và các ngành kinh tế. Các nhà mạng cần vượt ra ngoài vai trò cung cấp kết nối để tham gia xây dựng những giải pháp cụ thể theo nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp sản xuất cần chủ động xác định các công đoạn có thể ứng dụng 5G nhằm giảm thời gian dừng dây chuyền, nâng cao tỷ lệ phát hiện lỗi, tối ưu chi phí vận hành và tăng tính linh hoạt trong sản xuất.
Cùng với đó, cơ quan quản lý cần tạo môi trường thuận lợi cho thử nghiệm công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân rộng các mô hình đã chứng minh hiệu quả. Việc đánh giá các dự án 5G cần chú trọng lợi ích kinh tế - xã hội, tránh triển khai công nghệ chỉ nhằm chứng minh năng lực kỹ thuật mà chưa xác định rõ nhu cầu và hiệu quả thực tế.
Đặt trong định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiệm vụ phát triển 5G cần được nhìn nhận đồng thời ở ba khía cạnh: phát triển hạ tầng số hiện đại; thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các ngành kinh tế; từng bước nâng cao năng lực công nghệ trong nước. Thực tế triển khai bước đầu cho thấy Việt Nam đã hình thành năng lực thương mại hóa, mở rộng mạng lưới và cung cấp một số thiết bị, giải pháp 5G trong nước. Đây là cơ sở để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu trong nước vào quá trình phát triển, ứng dụng và làm chủ công nghệ phù hợp.
Bên cạnh khai thác hiệu quả 5G, việc chuẩn bị cho 5G-Advanced và 6G cũng cần được tiến hành từ sớm. Theo định hướng được nêu tại Hội nghị ASEAN về 5G lần thứ 7, các nhiệm vụ quan trọng gồm nghiên cứu công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tổ chức thử nghiệm, chuẩn bị phổ tần và tham gia xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế. Việc đầu tư phải gắn với mức độ trưởng thành của công nghệ, nhu cầu thực tế và khả năng phát huy hiệu quả, tránh tâm lý chạy theo công nghệ khi chưa xác định rõ mục tiêu.
Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy cách tiếp cận phát triển hạ tầng số tích hợp, kết hợp mạng cáp quang, 5G, công nghệ quang học tiên tiến, trung tâm dữ liệu và thông tin vệ tinh. Mạng viễn thông phi mặt đất được nghiên cứu, triển khai nhằm hỗ trợ nông nghiệp thông minh, các cộng đồng địa phương và ứng phó thiên tai. Trong khi đó, các nước ASEAN cũng thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm triển khai, trao đổi về mạng 5G riêng, 5G-Advanced và hợp tác thử nghiệm, chuẩn hóa các mô hình kinh tế ứng dụng 5G.
Đối với Việt Nam, mục tiêu trong giai đoạn tới không nhất thiết là tự phát triển toàn bộ công nghệ mạng thế hệ mới, mà quan trọng hơn là xác định những lĩnh vực có thể đóng góp, năng lực cần xây dựng và vị trí phù hợp trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Điều này đòi hỏi tăng cường hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các đối tác quốc tế; đồng thời chú trọng phát triển nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu trong nước.
Phát triển 5G đang mở ra một giai đoạn mới của hạ tầng viễn thông Việt Nam: từ mở rộng kết nối sang phục vụ trực tiếp các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Thành công của giai đoạn này không chỉ được đo bằng quy mô mạng lưới, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa hạ tầng thành năng suất, chất lượng dịch vụ và giá trị kinh tế mới.
Gắn quá trình đó với Nghị quyết số 7-NQ/TW, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy đồng thời ba mục tiêu: khai thác hiệu quả hạ tầng 5G, nâng cao năng lực công nghệ và chủ động tham gia định hình hệ sinh thái 6G. Đây cũng là nền tảng để hạ tầng viễn thông thế hệ mới thực sự trở thành động lực cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong những năm tới./.
- Từ khóa:
- Nghị quyết 57
- ứng dụng 5G
- hạ tầng số
- viễn thông


