Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyển sinh và đa dạng hóa hình thức đào tạo, chủ động rà soát, xây dựng kế hoạch tuyển sinh sát với nhu cầu thực tế của các dự án đang triển khai.
Sau một thời gian đi vào thực tiễn, Nghị quyết số 71/NQ-TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã trở thành "kim chỉ nam" quan trọng trong việc định hình lại hệ thống giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên tại Việt Nam.
* Hệ thống chính sách, các văn bản được ban hành triển khai kịp thời
Nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết 71, thời gian qua, Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án triển khai, đánh giá và tổ chức đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành nghề mới, kỹ năng mới, kỹ năng tương lai, bảo đảm phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn giai đoạn 2026 - 2035. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số 1803/BGDĐT-GDNNGDTX ngày 9/4/2026 gửi các địa phương về việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Theo đó, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên chú trọng các ngành, nghề gắn với kinh tế số, chuyển đổi số, tự động hóa, logistics, năng lượng tái tạo, môi trường, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ chất lượng cao…đồng thời tập trung đào tạo các kỹ năng mới, kỹ năng tương lai trong giáo dục nghề nghiệp.
Tiến sĩ Phạm Vũ Quốc Bình, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, sau khi Nghị quyết 71 được ban hành, ngày 15/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết 281/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết này. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã khẩn trương ban hành Quyết định số 2811/QĐ-BGDĐT ngày 10/10/2025 để phân công các Cục, Vụ, đơn vị thuộc Bộ triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết số 281-NQ/CP và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ.
Trước hết, nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên trong phát triển nguồn nhân lực đã có chuyển biến rõ rệt. Nhiều địa phương đã chủ động ban hành kế hoạch, chương trình hành động cụ thể nhằm triển khai Nghị quyết 71 phù hợp với điều kiện thực tiễn. Hệ thống cơ chế, chính sách, các văn bản được ban hành triển khai kịp thời. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 đã tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp phát triển.
Tới thời điểm hiện tại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp; ký ban hành 5 Thông tư, đồng thời đang tập trung xây dựng, để ban hành 10 Thông tư trước tháng 7/2026. Các văn bản, đề án được giao thực hiện Nghị quyết 71 cũng đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương triển khai, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn. Quy mô và cơ cấu tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định, chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao, tỷ lệ người học có việc làm sau tốt nghiệp có chuyển biến tích cực. Công tác đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động được chú trọng hơn. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức đào tạo đã được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và mở rộng cơ hội tiếp cận học tập cho người dân.
*Khuyến khích xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư
Để Nghị quyết 71 phát huy hiệu quả trong thời gian tới, Tiến sĩ Phạm Vũ Quốc Bình đề xuất, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng đồng bộ, linh hoạt và trao quyền cho địa phương và cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; đồng thời, đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính trong giáo dục nghề nghiệp, tăng cường cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu đào tạo theo nhu cầu của thị trường và của doanh nghiệp; ưu tiên ngân sách cho các ngành, nghề trọng điểm, các lĩnh vực mới nổi, có nhu cầu nhân lực lớn; khuyến khích xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư, đồng hành cùng cơ sở đào tạo.
Cùng với đó, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyển sinh và đa dạng hóa hình thức đào tạo, chủ động rà soát, xây dựng kế hoạch tuyển sinh sát với nhu cầu thực tế của các dự án đang triển khai; quan tâm mở rộng các chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi nghề cho người lao động để kịp thời đáp ứng nhu cầu nhân công kỹ thuật cho các dự án, nhất là các chương trình, dự án trọng điểm về giao thông, xây dựng, công nghiệp và hạ tầng xã hội; thúc đẩy hợp tác chặt chẽ giữa Nhà trường và doanh nghiệp như khuyến khích các cơ sở ký kết hợp tác chiến lược với các doanh nghiệp, nhà thầu thi công. Thực hiện mô hình đào tạo tại chỗ, đào tạo dựa trên đơn đặt hàng của doanh nghiệp; gắn lý thuyết với thực hành, tăng cường các hoạt động thực hành, thực tập gắn với kỹ thuật công nghệ của các công trình, dự án trọng điểm để người học tiếp cận công nghệ và thực tế sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Ngoài ra, Nhà nước cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên; ứng dụng công nghệ trong tổ chức đào tạo và đánh giá; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng theo hướng cập nhật công nghệ mới, kỹ năng sư phạm hiện đại; khuyến khích luân chuyển, gắn kết nhà giáo với doanh nghiệp để nâng cao năng lực thực tiễn.
Cuối cùng, tăng cường công tác hướng nghiệp và truyền thông xã hội; phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình - doanh nghiệp để cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về cơ hội học nghề và việc làm; xây dựng các mô hình hướng nghiệp sớm, hiệu quả; đồng thời có cơ chế tôn vinh người lao động có kỹ năng nghề cao nhằm từng bước thay đổi nhận thức xã hội.
Những giải pháp nêu trên sẽ được triển khai đồng bộ, có lộ trình và gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng ngành, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương và cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện góp phần đưa Nghị quyết 71 nhanh chóng đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả./.

