Tìm giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Giai đoạn 2026 - 2030 là khoảng thời gian then chốt để Quảng Ninh đặt nền tảng chính sách và thí điểm các cụm ngành công nghiệp ưu tiên.
Ngày 29/9, tại thành phố Quảng Ninh, Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thành phố Quảng Ninh”.
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh Nguyễn Mạnh Cường nêu rõ, địa phương xác định phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên công nghệ là con đường quan trọng và duy nhất để tạo ra giá trị gia tăng bền vững. Nâng tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao chính là thước đo quan trọng cho sự dịch chuyển này.
Theo kết quả khảo sát của các chuyên gia kinh tế, hoạt động đổi mới công nghệ tại khu vực doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Ninh ghi nhận mức tăng trưởng rõ rệt qua các năm. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ giai đoạn 2020 - 2024 tăng từ 18,29% lên 34,30% và ước đạt khoảng 39,40% vào năm 2025. Trong đó, đổi mới quy trình sản xuất là hình thức phổ biến nhất (23,1%), tiếp đến là đổi mới nguyên vật liệu (14,6%) và đổi mới sản phẩm (12,9%). Nhóm ngành Chế biến, chế tạo và Khai khoáng dẫn đầu về tỷ lệ đổi mới công nghệ (lần lượt là 42,5% và 42,3%).
Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt 19,31%. Khi mở rộng sang các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, tỷ trọng này đạt mức 50,11%. Tuy nhiên, kết quả có sự phân hóa rõ rệt. Khối doanh nghiệp lớn có tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao/ứng dụng công nghệ cao đạt cao nhất (50,91%), gấp hơn 5 lần so với nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ (9,46%).
Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giữ vai trò dẫn dắt với tỷ trọng đạt 53%, cao hơn 19 điểm phần trăm so với khối doanh nghiệp trong nước (34%). Các doanh nghiệp đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển) từ 2% doanh thu trở lên đạt tỷ trọng vượt trội 66,70%.
Bên cạnh điểm sáng, hoạt động đổi mới công nghệ tại địa phương vẫn gặp nút thắt lớn về nguồn lực khi có tới 83,1% doanh nghiệp chưa chi cho hoạt động R&D, chỉ 5,4% doanh nghiệp có bộ phận R&D chính thức và tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên còn thấp.
Trong bối cảnh pháp lý mới từ Luật Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng Luật Công nghệ cao năm 2025, các chuyên gia đã đề xuất khung giải pháp toàn diện cho Quảng Ninh. Tiến sĩ Đặng Thu Hương (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhấn mạnh nguyên tắc: Thành phố tạo lực đẩy, doanh nghiệp tạo nội lực và đổi mới đi vào thực chất".
Tiến sĩ Trần Lan Hương (Đại học Kinh tế Quốc dân) đề xuất giải pháp phân tầng doanh nghiệp và lập lộ trình công nghệ. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ tập trung số hóa cơ bản và cải tiến quy trình; doanh nghiệp vừa hướng tới tự động hóa; doanh nghiệp lớn tập trung R&D và làm chủ công nghệ. Địa phương cần triển khai cơ chế vốn mồi/đồng tài trợ chia sẻ rủi ro R&D, mở dòng tín dụng ưu đãi, bảo lãnh vay vốn và đặt hàng đào tạo nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần cam kết ngân sách, thành lập bộ phận R&D chuyên trách và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ; thúc đẩy liên kết chuỗi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi chính sách thu hút FDI gắn với điều kiện chuyển giao công nghệ để đưa doanh nghiệp trong nước thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia. Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển đổi kép (Số hóa - Xanh hóa), áp dụng tiêu chuẩn sản xuất sạch, kiểm kê phát thải, bảo vệ dữ liệu và an ninh công nghệ phát huy vai trò hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trọng tâm là xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quảng Ninh làm đầu mối kết nối "3 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp).
Giai đoạn 2026 - 2030 là khoảng thời gian then chốt để Quảng Ninh đặt nền tảng chính sách và thí điểm các cụm ngành công nghiệp ưu tiên (điện tử, cơ khí chính xác, vật liệu mới), từng bước nâng cao năng lực công nghệ nội sinh và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.


