Thu hẹp khoảng cách số không thể chỉ dựa vào mở rộng hạ tầng, mà cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ để người dân thực sự có khả năng kết nối và sử dụng dịch vụ.
Phát triển hạ tầng số để bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng thành quả chuyển đổi số là yêu cầu đặt ra trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 không chỉ góp phần mở rộng vùng phủ sóng, phổ cập Internet mà còn tạo điều kiện để người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận các dịch vụ thiết yếu trên môi trường số.
*Thu hẹp khoảng cách từ hạ tầng đến người sử dụng
Trong tiến trình chuyển đổi số, viễn thông không chỉ phục vụ nhu cầu liên lạc mà còn là hạ tầng thiết yếu để người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, giáo dục, y tế và các hoạt động kinh tế trên môi trường số. Tuy nhiên, tại những địa bàn có địa hình phức tạp, dân cư phân tán, việc đầu tư và duy trì hạ tầng viễn thông vẫn gặp nhiều khó khăn do chi phí cao, trong khi khả năng khai thác thương mại còn hạn chế. Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế của một bộ phận người dân cũng ảnh hưởng đến khả năng trang bị thiết bị và sử dụng dịch vụ Internet.
Những hạn chế này cho thấy thu hẹp khoảng cách số không thể chỉ dựa vào mở rộng hạ tầng, mà cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ để người dân thực sự có khả năng kết nối và sử dụng dịch vụ. Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng khi triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, gắn phát triển hạ tầng số với thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ giữa các vùng, miền và nhóm dân cư.
Giai đoạn 2021–2025, các doanh nghiệp viễn thông đã đầu tư xây mới và duy trì 1.817 trạm BTS cung cấp dịch vụ di động, cùng 1.755 công trình hạ tầng viễn thông cung cấp dịch vụ băng rộng cố định. Hơn 900.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông; khoảng 4.500 cơ sở giáo dục và gần 1.100 trạm y tế tại các xã đặc biệt khó khăn được hỗ trợ sử dụng Internet băng rộng cố định mặt đất.
Kết quả này góp phần cải thiện khả năng kết nối tại nhiều địa bàn, song thực tế vẫn còn những khu vực chưa được phủ sóng hoặc chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Tại các tỉnh miền núi, địa hình chia cắt và dân cư thưa thớt khiến chi phí xây dựng, duy trì trạm BTS và cáp quang tăng cao, trong khi doanh thu thấp. Theo phản ánh của các địa phương và doanh nghiệp tại hội nghị hướng dẫn triển khai Chương trình viễn thông công ích tháng 9/2026, mức hỗ trợ phát triển hạ tầng hiện hành cũng cần tiếp tục được rà soát để sát hơn với chi phí thực tế.
Thông tin từ Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ) cả nước còn 273 thôn lõm sóng. Cục Viễn thông và các doanh nghiệp đặt mục tiêu phủ sóng 100% số thôn này trước ngày 31/12/2026.
*Đồng bộ giải pháp, bảo đảm người dân được thụ hưởng
Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 30/4/2026, tiếp tục xác định hỗ trợ cung cấp dịch vụ và hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ là hai nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Về hạ tầng, chương trình mở rộng địa bàn được hỗ trợ, trong đó có các thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời bổ sung nhiệm vụ hỗ trợ nâng cấp hạ tầng viễn thông nhằm bảo đảm thông tin liên lạc trong các tình huống khẩn cấp. Với những khu vực khó triển khai hạ tầng mặt đất do địa hình, dân cư thưa thớt hoặc chưa có điện lưới, giải pháp hỗ trợ sử dụng dịch vụ viễn thông qua mạng vệ tinh tầm thấp tại các điểm cộng đồng được bổ sung nhằm mở rộng khả năng kết nối.
Về hỗ trợ sử dụng dịch vụ, chương trình đặt mục tiêu phấn đấu 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên cả nước có nhu cầu được hỗ trợ sử dụng dịch vụ Internet băng rộng cố định mặt đất hoặc dịch vụ viễn thông di động mặt đất. Chương trình cũng hướng tới hỗ trợ 400.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo trang bị điện thoại thông minh; tiếp tục hỗ trợ cước Internet băng rộng cho các cơ sở giáo dục, bao gồm điểm trường lẻ, trạm y tế và các điểm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ứng dụng công nghệ thông tin theo quy định.
Những chính sách này cho thấy định hướng của viễn thông công ích giai đoạn mới không chỉ dừng ở việc đưa sóng đến các khu vực khó khăn, mà còn chú trọng khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Khi có kết nối, thiết bị và điều kiện sử dụng phù hợp, người dân mới có thể khai thác hiệu quả các nền tảng số, tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, học tập, khám chữa bệnh từ xa và mở rộng cơ hội phát triển sinh kế.
Cùng với mở rộng hạ tầng, việc đổi mới phương thức quản lý chương trình bằng dữ liệu cũng được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện. Tuy nhiên thông tin về hộ nghèo, hộ cận nghèo do địa phương quản lý có thời điểm chưa đồng bộ với dữ liệu thuê bao của doanh nghiệp viễn thông; một số thay đổi về địa chỉ, tình trạng hộ nghèo hoặc chủ thuê bao chưa được cập nhật kịp thời, làm kéo dài quá trình đối soát và thanh quyết toán.
Để khắc phục tình trạng này, phần mềm quản lý tập trung Chương trình viễn thông công ích được dự kiến đưa vào vận hành trong tháng 10/2026, cho phép UBND cấp xã và Sở Khoa học và Công nghệ cập nhật, phê duyệt dữ liệu; hướng tới kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về hộ nghèo, hộ cận nghèo. Khi thông tin về đối tượng thụ hưởng, thuê bao và mức hỗ trợ được quản lý tập trung, việc xác định đúng người, đúng địa bàn và theo dõi tiến độ hỗ trợ có thể thuận lợi hơn, giảm các khâu đối chiếu thủ công.
Đây cũng là hướng triển khai phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng dữ liệu trong quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và thúc đẩy chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tuy nhiên, để chương trình đạt hiệu quả, bên cạnh hoàn thiện hệ thống dữ liệu, cần tiếp tục tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính, định mức chi phí đầu tư và duy trì hạ tầng tại vùng khó khăn, tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp viễn thông.
Phát triển viễn thông công ích không chỉ là nhiệm vụ mở rộng mạng lưới, mà còn gắn với mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và cơ hội phát triển bình đẳng. Khi hạ tầng được đầu tư đúng nơi, chính sách đến đúng đối tượng và dịch vụ số trở nên dễ tiếp cận hơn, người dân vùng khó khăn sẽ có thêm điều kiện tham gia vào quá trình chuyển đổi số quốc gia, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau./.


