Những hình ảnh trình chiếu, công nghệ mapping, âm thanh, ánh sáng hiện đại và các phương thức tương tác đã mở rộng không gian biểu đạt, tạo thêm chiều sâu cho câu chuyện nghệ thuật.
Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số là xu thế phát triển chung của toàn xã hội và nghệ thuật biểu diễn không nằm ngoài xu thế tất yếu đó. Trong thời gian qua, ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn đã được nhiều đơn vị nghệ thuật quan tâm, đẩy mạnh, từ khâu sáng tác, dàn dựng đến biểu diễn, quảng bá, truyền thông và kết nối khán giả. Những hình ảnh trình chiếu, công nghệ mapping, âm thanh, ánh sáng hiện đại và các phương thức tương tác đã mở rộng không gian biểu đạt, tạo thêm chiều sâu cho câu chuyện nghệ thuật, đồng thời mang đến cho khán giả những trải nghiệm khác biệt.
Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ứng dụng công nghệ trong nghệ thuật biểu diễn không chỉ là yêu cầu đổi mới sân khấu, mà còn góp phần khai thác nguồn lực văn hóa, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.
* Công nghệ tạo nên những sản phẩm nghệ thuật hấp dẫn
Trong thời đại số như hiện nay, công nghệ đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với những sáng tạo trong nghệ thuật biểu diễn. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, chuyển đổi số trong nghệ thuật biểu diễn không còn dừng ở việc quảng bá chương trình trên mạng xã hội hay bán vé trực tuyến. Công nghệ đang từng bước tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, dàn dựng, tổ chức biểu diễn và phân phối sản phẩm đến công chúng. Một số chương trình nghệ thuật thực cảnh như “Tinh hoa Bắc Bộ”, “Ký ức Hội An” đã cho thấy khả năng kết hợp nghệ thuật với công nghệ và không gian văn hóa, tạo nên những sản phẩm có sức hấp dẫn đối với khách du lịch.
Tại các đơn vị nghệ thuật trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, những tìm tòi mới cũng đang được thúc đẩy. Các vở diễn “Sơn Thần - Thủy quái” và “Kỳ Yến - Bữa tiệc diệu kỳ” của Liên đoàn Xiếc Việt Nam là những ví dụ đáng chú ý về nỗ lực kết hợp nghệ thuật biểu diễn với công nghệ hiện đại, mở rộng khả năng kể chuyện và tạo dựng trải nghiệm sân khấu.
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, ứng dụng công nghệ số trước hết đòi hỏi sự thay đổi tư duy của người đứng đầu, đạo diễn và toàn bộ ê-kíp sáng tạo. Công nghệ cần được tính đến ngay từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, chứ không phải đợi tác phẩm hoàn thiện rồi mới tìm cách bổ sung hình ảnh.
Từ kinh nghiệm của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Tống Toàn Thắng cho rằng, nếu chỉ sử dụng công nghệ để làm sân khấu đẹp hơn thì chưa khai thác hết tiềm năng của phương tiện này. Hình ảnh phải tham gia vào tình huống, diễn biến câu chuyện, góp phần tạo dựng không gian và hỗ trợ nghệ sĩ thể hiện cảm xúc.
Chẳng hạn, khi nghệ sĩ xiếc uốn dẻo tạo hình một bông hoa, hình ảnh trình chiếu cũng cần chuyển động, nở ra cùng nghệ sĩ để tạo nên sự hòa quyện giữa biểu diễn trực tiếp và không gian số. Muốn đạt được hiệu quả đó, đạo diễn nghệ thuật, đạo diễn hình ảnh, chuyên gia công nghệ, âm nhạc và biên đạo phải cùng tham gia sáng tạo ngay từ đầu.
Với “Sơn thần - Thủy quái”, công nghệ giúp Liên đoàn Xiếc Việt Nam làm mới câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh so với cách dàn dựng trước đây. Những không gian núi rừng, đại dương được mở ra trên sân khấu, tạo điều kiện để nghệ sĩ hóa thân vào câu chuyện, đồng thời giúp khán giả tiếp cận tác phẩm bằng một hình thức sinh động hơn.
Điều đáng chú ý là công nghệ không chỉ tác động đến thị giác của người xem mà còn làm thay đổi quá trình lao động nghệ thuật. Diễn viên phải thích nghi với ánh sáng, hình ảnh trình chiếu, nhịp phối hợp với bộ phận kỹ thuật và những yêu cầu diễn xuất mới. Đằng sau hiệu quả sân khấu là quá trình tập luyện, thử nghiệm, điều chỉnh liên tục của cả ê-kíp.
Nghệ sĩ Ưu tú Thu Hương, Liên đoàn Xiếc Việt Nam, chia sẻ công nghệ không thể giúp nghệ sĩ thực hiện thêm vòng xiếc hay giảm bớt sự đau đớn khi tập luyện những động tác khó, nhưng có thể làm nổi bật phần trình diễn, hỗ trợ biểu đạt và tạo thêm cảm xúc. Khi hình ảnh khu rừng, dòng sông hiện diện trên sân khấu, nghệ sĩ cũng có điều kiện cảm nhận rõ hơn bối cảnh, từ đó thuận lợi hơn trong việc nhập vai và thể hiện câu chuyện.
Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam, cho rằng có chương trình cần công nghệ để mở rộng khả năng biểu đạt, nhưng cũng có tác phẩm phù hợp hơn với cách xử lý sân khấu bằng bục, cảnh trí và những chuyển động mang tính ước lệ. Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng dẫn chứng, khi dàn dựng một vở cải lương tại Hải Phòng, ban đầu có đề nghị sử dụng màn hình LED. Tuy nhiên, sau khi xem xét nội dung và không khí của vở diễn, ông nhận thấy phương án này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả nghệ thuật nên đã lựa chọn cách xử lý cảnh trí khác và kết quả biểu diễn được đánh giá tích cực.
Câu chuyện của Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng cho thấy, đổi mới không đồng nghĩa với việc đưa càng nhiều thiết bị hiện đại lên sân khấu càng tốt. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi giải quyết được những yêu cầu cụ thể của sáng tạo, góp phần làm rõ câu chuyện và cảm xúc của tác phẩm. Nếu quá chú trọng hiệu ứng thị giác mà xem nhẹ nội dung, bản sắc và chất lượng biểu diễn, sản phẩm khó tạo được sức sống lâu dài.
Đối với nghệ thuật múa rối, những con rối nhỏ bé, các chuyển động tinh tế và nghệ thuật điều khiển rối chính là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn. Nếu hình ảnh trình chiếu quá lớn hoặc quá mạnh, công nghệ có thể lấn át nhân vật, khiến khán giả không còn tập trung vào giá trị cốt lõi của tác phẩm.
Tương tự, ở các loại hình nghệ thuật truyền thống khác, việc đưa công nghệ vào dàn dựng cần được thực hiện trên cơ sở hiểu biết về cấu trúc, tiết tấu, ngôn ngữ biểu đạt và chiều sâu văn hóa của từng loại hình.
* Để chuyển đổi số đi vào chiều sâu
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt ra những định hướng quan trọng cho quá trình đổi mới hoạt động nghệ thuật. Trong đó, yêu cầu chủ động thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được cụ thể hóa bằng những chương trình, giải pháp phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Đối với nghệ thuật biểu diễn, chuyển đổi số không thể chỉ là nỗ lực riêng lẻ của từng nhà hát hay dự án. Quá trình này cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghệ thuật, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ, với những cơ chế đủ linh hoạt để huy động nguồn lực xã hội.
Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam, cho rằng ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn là xu hướng tất yếu, mở ra nhiều cơ hội đổi mới phương thức sáng tạo, dàn dựng và tiếp cận khán giả. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong nghệ thuật biểu diễn không chỉ là câu chuyện mua sắm thiết bị hay đưa công nghệ mới lên sân khấu. Muốn vận hành hiệu quả, các nhà hát cần có đội ngũ đủ năng lực để làm chủ thiết bị, xây dựng nội dung số, quảng bá sản phẩm và duy trì hoạt động trên các nền tảng trực tuyến. Bởi vậy, cùng với đầu tư công nghệ, cần có cơ chế phù hợp để đào tạo, thu hút và giữ chân nhân lực kỹ thuật, truyền thông, từng bước hình thành đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển trong môi trường số.
Tiến sĩ, Nghệ sĩ Nhân dân Trần Ly Ly, Bí thư Đảng ủy Học viện Múa Việt Nam, cho rằng chuyển đổi số trong nghệ thuật biểu diễn cần được triển khai đồng bộ từ sáng tạo, tổ chức sản xuất, phân phối đến quản lý và tiếp cận công chúng. Mỗi loại hình nghệ thuật có đặc trưng riêng, đòi hỏi phương thức ứng dụng công nghệ phù hợp, công nghệ phải phục vụ ý đồ sáng tạo, đồng thời gìn giữ giá trị cốt lõi của nghệ thuật truyền thống.
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Trần Ly Ly, một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng hệ thống dữ liệu nghệ thuật biểu diễn có tính hệ thống, phục vụ lưu trữ, nghiên cứu và quản lý. Việc số hóa các tác phẩm, vở diễn và tư liệu lịch sử không chỉ giúp bảo tồn giá trị nghệ thuật mà còn cung cấp chất liệu cho sáng tạo đương đại. Cùng với đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc thù từng loại hình, bao gồm dữ liệu về khán giả, hoạt động biểu diễn và hiệu quả khai thác, tránh chỉ dựa vào quy mô người xem để đánh giá hiệu quả hoạt động.
Nghệ sĩ Nhân dân Trần Ly Ly đề xuất Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét giao một đơn vị đầu mối xây dựng danh mục dữ liệu, tiêu chí và các dự án ưu tiên chuyển đổi số. Các nhà hát cần chủ động kiểm kê tư liệu, rà soát hạ tầng và xác định nhu cầu đầu tư. Trong đó, cần phân biệt hạ tầng công nghệ cơ bản phục vụ hoạt động lâu dài với công nghệ được lựa chọn riêng cho từng tác phẩm, từ đó có phương án đầu tư hoặc thuê thiết bị linh hoạt, phù hợp với nguồn lực.
Ông Nguyễn Đức Quang - Nhà sáng lập - Giám đốc VietArt, đơn vị phụ trách công nghệ cho vở “Sơn thần - Thuỷ quái” của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, cho rằng đơn vị công nghệ cần tham gia từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản để cùng trao đổi khả năng thực hiện, lựa chọn giải pháp phù hợp với nội dung và điều kiện biểu diễn. Theo ông Nguyễn Đức Quang, công nghệ phải phù hợp với quy mô, không gian từng nhà hát. Đơn vị dành đủ thời gian nghiên cứu, hoàn thiện, chỉ đưa vào biểu diễn khi giải pháp đủ độ chín và có thể phối hợp hiệu quả với nghệ sĩ.
Bà Vũ Ngọc Trinh, Phó Cục trưởng Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số, cho rằng ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn không chỉ dừng lại ở đổi mới phương thức dàn dựng, nâng cao chất lượng tác phẩm hay quảng bá, thu hút khán giả, mà còn cần gắn với nhiệm vụ số hóa, lưu giữ và phát huy giá trị nghệ thuật lâu dài. Các nhà hát đang nắm giữ nguồn tài nguyên văn hóa quý giá, từ tác phẩm, hình ảnh, bản ghi biểu diễn đến hiện vật và tư liệu về quá trình sáng tạo của nghệ sĩ. Nếu được số hóa, tổ chức và quản lý bài bản, nguồn tư liệu này sẽ phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu, giáo dục, quảng bá và trao truyền di sản nghệ thuật cho các thế hệ sau./.





