Khoa học - Sáng tạo

Phát huy nền tảng khoa học cơ bản để làm chủ công nghệ chiến lược

Cần xây dựng những chương trình nghiên cứu dài hạn, tạo điều kiện để các nhóm khoa học theo đuổi những bài toán lớn thay vì bị giới hạn trong các chu kỳ tài trợ ngắn.

Giáo sư Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang đặt ra yêu cầu chuyển mạnh hoạt động nghiên cứu từ tạo ra tri thức sang đồng thời hình thành năng lực công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tiễn. Trong tiến trình đó, khoa học cơ bản được xác định là nền móng để tạo ra tri thức mới, đào tạo nhân lực nghiên cứu trình độ cao và từng bước làm chủ những công nghệ chiến lược mà Việt Nam ưu tiên phát triển.

*Khoa học cơ bản mở đường cho công nghệ mới

Tại Hội nghị Khoa học năm 2026 với chủ đề “Chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản và đóng góp của khoa học cơ bản trong phát triển các sản phẩm chiến lược quốc gia” do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, các chuyên gia cho rằng, để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển, cần kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và sản phẩm. Cùng với đó là cơ chế đầu tư dài hạn, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và phát huy vai trò của đại học nghiên cứu.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ, Nghị quyết số 57-NQ/TW đang mở ra cơ hội lớn để thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ chiến lược. Trong đó, khoa học cơ bản giữ vai trò nền tảng đối với phát triển các nhóm công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia.

Theo Giáo sư Lê Thanh Sơn, cùng với đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm, cần phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm, gắn nghiên cứu khoa học đỉnh cao với đào tạo nhân tài; đồng thời tăng cường liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội phân tích, nghiên cứu cơ bản có vai trò tạo ra tri thức mới và mở đường cho những công nghệ mang tính đột phá. Nếu quá trình phát triển sản phẩm từ 1 đến 10 có thể dựa trên cải tiến và mở rộng quy mô, thì bước chuyển từ 0 đến 1 đòi hỏi nền tảng nghiên cứu cơ bản vững chắc.

Thực tiễn tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cho thấy sự gắn kết ngày càng rõ giữa nghiên cứu cơ bản với các lĩnh vực công nghệ ưu tiên. Nhà trường hiện có gần 500 nhà khoa học, 81 phòng thí nghiệm với hơn 6.000 trang thiết bị; trung bình mỗi năm công bố 600–700 bài báo thuộc hệ thống Scopus/WoS. Khoảng 44% đề tài và 72% bài báo khoa học đã gắn với các nhóm công nghệ chiến lược, nổi bật ở công nghệ sinh học y sinh, vật liệu và năng lượng, khoa học Trái đất và biển.

Từ thực tiễn này, vấn đề đặt ra không chỉ là tạo ra tri thức mới mà còn cần cơ chế để kết quả nghiên cứu tiếp tục được phát triển qua các giai đoạn nghiên cứu ứng dụng, hoàn thiện công nghệ và hình thành sản phẩm.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Mẫn, Trưởng phòng Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu kết nối nghiên cứu cơ bản với chuỗi giá trị công nghệ và doanh nghiệp. Theo ông, cần xây dựng những chương trình nghiên cứu dài hạn, tạo điều kiện để các nhóm khoa học theo đuổi những bài toán lớn thay vì bị giới hạn trong các chu kỳ tài trợ ngắn.

Đặc thù của khoa học cơ bản là cần thời gian tích lũy tri thức, xây dựng đội ngũ và phát triển những hướng nghiên cứu mới. Vì vậy, hướng nghiên cứu tới sản phẩm và giá trị thực tiễn cần song hành với đầu tư xây dựng năng lực tạo ra tri thức và công nghệ lõi.

Các chuyên gia cũng cho rằng, đóng góp của khoa học cơ bản đối với những mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ giới hạn trong khoa học tự nhiên.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, khoa học xã hội và nhân văn có vai trò nền tảng trong gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển tư duy phản biện và cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách.

Nhà trường mỗi năm cung cấp khoảng 15 báo cáo tư vấn chính sách, tham gia xây dựng Khung năng lực số áp dụng tại hơn 200 trường đại học và dành 3,68 tỷ đồng cấp học bổng cho sinh viên các ngành khoa học cơ bản giai đoạn 2022–2026. Từ thực tiễn đó, Phó Giáo sư Đặng Thị Thu Hương đề nghị có cơ chế đầu tư, đánh giá phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực; đồng thời tăng cường sự tham gia của khoa học xã hội và nhân văn trong các chương trình khoa học, công nghệ chiến lược quốc gia.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thu Trang, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu kết hợp khoa học tự nhiên với khoa học xã hội và nhân văn ngay từ quá trình nghiên cứu, phát triển sản phẩm chiến lược.

Theo bà, nếu khoa học tự nhiên tạo ra công nghệ lõi thì khoa học xã hội và nhân văn góp phần định hình giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức và sự chấp nhận của xã hội. Giá trị của sản phẩm không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng kết hợp tri thức khoa học với các giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc.

Từ những trường hợp như nước mắm Phú Quốc, gạo ST25 và công nghiệp văn hóa, bà Ngô Thu Trang đề xuất hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành, phát triển hạ tầng tri thức số và thúc đẩy cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ địa phương.

Cách tiếp cận liên ngành càng trở nên cần thiết trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và chuyển đổi số. Một sản phẩm công nghệ chiến lược không chỉ đặt ra bài toán kỹ thuật mà còn liên quan đến đạo đức, văn hóa, hành vi và khả năng được xã hội chấp nhận.

Doanh nghiệp giới thiệu, hướng dẫn sinh viên trải nghiệm các ứng dụng công nghệ AI. 
Ảnh: Minh Phú - TTXVN

*Tạo cơ chế dài hạn cho nghiên cứu và đào tạo nhân tài

Bên cạnh việc xác định vai trò nền tảng của khoa học cơ bản, vấn đề được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm là cơ chế đầu tư, tài trợ và tổ chức nghiên cứu.

Tiến sĩ Trần Quốc Cường, Vụ trưởng Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, một trong những định hướng đối với phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản là thiết kế hai kênh tài trợ thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), gồm nghiên cứu cơ bản khám phá tự do và nghiên cứu cơ bản định hướng phục vụ các ưu tiên chiến lược. Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế tài trợ dài hạn từ 5 - 10 năm và chấp nhận rủi ro khoa học.

Theo các nhà khoa học, cơ chế này phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản, bởi không phải mọi nghiên cứu đều có thể xác định trước kết quả cuối cùng hoặc nhanh chóng chuyển thành sản phẩm. Những phát hiện có khả năng mở ra hướng khoa học và công nghệ mới có thể đòi hỏi quá trình tích lũy dài hạn.

Do đó, gắn nghiên cứu với các ưu tiên phát triển quốc gia không đồng nghĩa tất cả nhiệm vụ khoa học đều phải tạo ra sản phẩm trong thời gian ngắn. Bên cạnh những chương trình nghiên cứu định hướng, cần duy trì không gian cho nghiên cứu khám phá, bảo đảm tự do học thuật và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.

Một yêu cầu khác là phát huy vai trò của các đại học nghiên cứu trong hệ sinh thái khoa học và công nghệ. Trường đại học không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn trực tiếp tạo ra tri thức, hình thành đội ngũ nhà khoa học kế cận và dẫn dắt những hướng nghiên cứu mới.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh, khoa học cơ bản là nền móng của hệ thống khoa học và công nghệ. Vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản phải đồng thời là đầu tư cho con người.

Các chuyên gia đề xuất phát triển chuỗi đào tạo nhân tài liên tục từ trường trung học phổ thông chuyên, chương trình cử nhân tài năng đến đào tạo sau đại học và các nhóm nghiên cứu mạnh. Người học có năng lực cần được tiếp cận sớm với môi trường nghiên cứu, được tham gia giải quyết các bài toán khoa học để từng bước trở thành lực lượng nghiên cứu kế cận.

Các nhà khoa học đồng thời kiến nghị đổi mới phương thức đánh giá nhóm nghiên cứu mạnh, bảo đảm tự do học thuật, có cơ chế phù hợp để bảo vệ nhà khoa học trước những rủi ro của hoạt động nghiên cứu và tiếp tục tháo gỡ khó khăn về tài chính.

Một trong những đề xuất là điều chỉnh cơ chế chi phí quản lý gián tiếp từ các đề tài khoa học, tạo nguồn lực để các cơ sở nghiên cứu tái đầu tư phòng thí nghiệm, hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo nhân tài. Đây là điều kiện cần thiết để duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh và xây dựng hạ tầng nghiên cứu có khả năng phục vụ những nhiệm vụ khoa học dài hạn.

Từ những vấn đề được các chuyên gia đặt ra, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW cần được nhìn nhận như một chuỗi liên tục từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến phát triển công nghệ và sản phẩm. Đầu tư cho sản phẩm đầu ra cần đi cùng đầu tư dài hạn cho tri thức nền tảng, con người, phòng thí nghiệm và các nhóm nghiên cứu mạnh.

Khi đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp được kết nối trong một hệ sinh thái, khoa học cơ bản có thể trở thành điểm xuất phát của công nghệ lõi và những sản phẩm mới. Quan trọng hơn, nền tảng nghiên cứu đủ mạnh sẽ góp phần hình thành năng lực tự tạo ra tri thức và công nghệ, thay vì chỉ tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu có sẵn./.

 

PV

Tin liên quan

Xem thêm