Khoa học - Sáng tạo

Khoa học, công nghệ trong trường đại học: Chuyển từ “nghiên cứu để công bố” sang tạo ra giá trị

Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được định hướng gắn chặt hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cùng các đại biểu tham quan "Không gian đổi mới sáng tạo liên ngành" của Đại học Bách khoa Hà Nội. 
Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các văn bản liên quan đang tạo lập khuôn khổ pháp lý theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học. Yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình, đầu vào sang quản trị theo mục tiêu, sản phẩm và tác động, qua đó đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, tạo ra giá trị kinh tế - xã hội.

*Nghiên cứu phải tạo ra giá trị thực chất

Tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được định hướng gắn chặt hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho biết, nhà trường định hướng chuyển mạnh hoạt động khoa học, công nghệ theo hướng tạo ra giá trị thực chất. Bên cạnh tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống trong đào tạo giáo viên, trường sẽ mở rộng đào tạo các ngành ngoài sư phạm, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học cơ bản, gồm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhằm tăng cường nguồn lực, mở rộng mạng lưới nghiên cứu, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nghiên cứu khoa học giáo dục của trường tập trung vào những vấn đề thiết thực của ngành như triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên, ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp dạy học.

Từ năm 2024 đến nay, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội triển khai các nhiệm vụ trọng điểm đánh giá việc thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; ra mắt Hệ sinh thái HNUE STEM Ecosystem; tổ chức HNUE Olympic STEM cho học sinh các cấp học, tạo môi trường kết nối giữa nghiên cứu, đào tạo giáo viên và thực tiễn giáo dục phổ thông.

Các kết quả nghiên cứu cũng từng bước được cụ thể hóa thành chương trình, tài liệu và công cụ hỗ trợ nghề nghiệp. Nhà trường đã thẩm định 14 chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo đặt hàng trong các lĩnh vực giáo dục STEM, trí tuệ nhân tạo và kỹ năng sống; tổ chức 13 khóa bồi dưỡng cấp chứng nhận; hoàn thành 4 giáo trình thuộc khối kiến thức 35 tín chỉ nghiệp vụ sư phạm; biên soạn 56 sổ tay nghiệp vụ sư phạm và xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học giáo dục dùng chung trong toàn trường.

Theo lãnh đạo nhà trường, những kết quả này cho thấy nghiên cứu khoa học giáo dục không chỉ dừng lại ở sản phẩm học thuật mà có thể trực tiếp phục vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và đổi mới hoạt động của trường phổ thông.

Một hướng đi khác nhằm đưa kết quả nghiên cứu từ trường đại học ra thị trường đang được Đại học Bách khoa Hà Nội đề xuất là thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ (spin-off).

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, doanh nghiệp spin-off là doanh nghiệp mới được thành lập để khai thác thương mại một tài sản trí tuệ cụ thể hình thành tại trường đại học. Trong mô hình này, nhà trường nắm giữ những quyền lợi xác định thông qua giấy phép, cổ phần hoặc tiền bản quyền; nhà khoa học sáng lập có thể tiếp tục là giảng viên cơ hữu.

Theo Giáo sư Lê Anh Tuấn, phát triển doanh nghiệp spin-off không chỉ nhằm tạo nguồn thu trực tiếp cho trường đại học mà quan trọng hơn là đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh; thu hút vốn đầu tư tư nhân cho quá trình phát triển công nghệ; hình thành sản phẩm, thị trường công nghệ mới và việc làm chất lượng cao. Mô hình này cũng góp phần tạo môi trường để giữ chân các nhà khoa học giỏi, đồng thời hình thành nguồn thu dài hạn tái đầu tư cho nghiên cứu và đào tạo.

Do đó, hiệu quả của mô hình cần được đánh giá bằng khả năng thương mại hóa công nghệ, huy động vốn, tạo việc làm và giá trị kinh tế - xã hội trong dài hạn, thay vì chỉ dựa trên lợi ích tài chính trực tiếp tại thời điểm doanh nghiệp được thành lập.

Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Carnegie Mellon, Stanford, Oxford, Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Thanh Hoa, Đại học Bách khoa Hà Nội đề xuất mô hình thương mại hóa gồm bốn giai đoạn, áp dụng gói điều kiện giao dịch chuẩn nhằm giảm chi phí đàm phán.

Đại học Bách khoa Hà Nội cũng kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với 10-15 doanh nghiệp spin-off trong 24 tháng; đồng thời áp dụng cơ chế linh hoạt về định giá tài sản trí tuệ, sử dụng cơ sở vật chất, bảo lưu vị trí công tác đối với giảng viên tham gia điều hành doanh nghiệp và cơ chế “vùng an toàn trách nhiệm” đối với người ra quyết định.

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng.

*Chuyển từ “nghiên cứu để công bố” sang tạo ra giá trị

Theo Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Vũ Thanh Bình, năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc tiếp tục được nâng lên. Riêng năm 2025, các cơ sở này có 6.051 công bố thuộc Web of Science, 4.177 công bố thuộc Scopus và 10.267 bài báo trên các tạp chí khoa học trong nước.

Cùng với số lượng công bố, đội ngũ cán bộ khoa học tiếp tục được củng cố, số lượng giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ tăng qua các năm. Việc gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo sau đại học góp phần phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao.

Hoạt động xác lập, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ cũng có chuyển biến. Số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích và tài sản trí tuệ được chấp nhận đơn, cấp văn bằng bảo hộ tăng, cho thấy xu hướng chuyển từ nghiên cứu chủ yếu tạo ra tri thức sang nghiên cứu gắn với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả.

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Quang Hưng cho rằng, khuôn khổ pháp lý hiện nay đã mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, song yếu tố quyết định là năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm giải trình của từng cơ sở.

Người đứng đầu các trường cần trực tiếp chỉ đạo, tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ nhà khoa học phát huy năng lực sáng tạo; đồng thời chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng nguồn lực cũng như kết quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đơn vị.

Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, thời gian qua, năng lực nghiên cứu và chất lượng công bố quốc tế từng bước được nâng cao; nhiều nhóm nghiên cứu mạnh, hướng nghiên cứu liên ngành và chương trình hợp tác quốc tế được hình thành. Hoạt động nghiên cứu ngày càng gắn với đào tạo sau đại học, phát triển đội ngũ nhà khoa học trẻ và nghiên cứu khoa học sinh viên. Sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp, hợp tác với doanh nghiệp và địa phương cũng được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu khoa học tương xứng với tiềm năng, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung thực hiện 5 chuyển dịch quan trọng.

Trước hết là chuyển từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo mục tiêu, sản phẩm và tác động; từ các đề tài riêng lẻ sang chương trình nghiên cứu dài hạn, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm nghiên cứu xuất sắc.

Các trường cần chuyển từ tư duy “nghiên cứu để công bố” sang nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ, đào tạo nhân lực và giải quyết các vấn đề thực tiễn; mở rộng hợp tác thực chất giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế.

Cùng với đó là đầu tư có trọng điểm cho khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, công nghệ chiến lược và những lĩnh vực thế mạnh của từng cơ sở giáo dục đại học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ những vướng mắc về tài chính, tài sản, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Trong bối cảnh quyền tự chủ ngày càng được mở rộng, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học chủ động rà soát chiến lược phát triển, cụ thể hóa thành các nhiệm vụ với mục tiêu, sản phẩm, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm rõ ràng. Đây được xem là điều kiện quan trọng để các cơ chế mới thực sự đi vào cuộc sống, chuyển nguồn lực khoa học, công nghệ trong các trường đại học thành sản phẩm, công nghệ và những giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội./.

PV

Tin liên quan

Xem thêm