Khoa học - Sáng tạo

Chuyển đổi số trong phát triển chuỗi giá trị chè Thái Nguyên

Thái Nguyên

Giá trị thu được trên 1 ha đất trồng chè bình quân đạt từ 400 đến 600 triệu đồng/ha. Tại một số vùng chè đặc sản như Tân Cương, La Bằng, Vô Tranh đạt từ 800 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng/ha.

Vùng sản xuất chè hữu cơ xã Phú Thịnh, Thái Nguyên. 
Ảnh: Hoàng Thảo Nguyên-TTXVN

Cây chè là cây chủ lực quốc gia và cũng là cây chủ lực của tỉnh Thái Nguyên diện tích hiện nay đạt 22.200 ha, chiếm khoảng 17% diện tích chè toàn quốc, sản lượng đạt 272.000 tấn chè búp tươi/năm, giá trị thu nhập từ cây chè đạt 14.800 tỷ đồng (năm 2025). Tỉnh phấn đấu đến năm 2030, giá trị thu nhập từ cây chè sẽ đạt 25.000 tỷ đồng…

Những năm gần đây, cơ cấu giống chè của tỉnh Thái Nguyên đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm chè, diện tích chè giống mới đạt trên 82%. Toàn tỉnh có trên 17.800 ha chè áp dụng sản xuất an toàn, hơn 5.900 ha được chứng nhận VietGAP, 179 ha được chứng nhận hữu cơ. Đến nay cơ bản các vùng sản xuất chè tập trung ở Thái Nguyên đã ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước. Giá trị thu được trên 1 ha đất trồng chè bình quân đạt từ 400 đến 600 triệu đồng/ha. Tại một số vùng chè đặc sản như Tân Cương, La Bằng, Vô Tranh đạt từ 800 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng/ha.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Và Chương trình chuyển đổi số tỉnh Thái Nguyên giai đoạn đến năm 2030 riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp được xác định thực hiện 3 nội dung chính: Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác; quản trị và quản lý nông nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ số, xây dựng hệ thống dữ liệu ngành về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thủy lợi và phòng chống thiên tai; Ứng dụng công nghệ số để tự động hóa quy trình sản xuất, quản lý giám sát và truy xuất nguồn gốc nông sản, phát triển các chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp an toàn; Hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp, HTX và nông dân phát triển thương mại điện tử, xây dựng nhãn hiệu thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Với cây chè là cây chủ lực, có giá trị kinh tế cao, để tạo động lực, thúc đẩy phát triển trong giai đoạn mới, năm 2025 Tỉnh ủy Thái Nguyên đã ban hành Nghị quyết 11 về phát triển ngành chè giai đoạn 2025 – 2030. Trên cơ sở đó, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết về chính sách hỗ trợ, trong đó đặc biệt quan tâm cho công tác chuyển đổi số với mức hỗ trợ cơ bản từ 50 % đến 100 % như: hỗ trợ giống, phân bón trồng chè bằng giống có năng suất, chất lượng cao; hỗ trợ hệ thống tưới tiết kiệm nước; hỗ trợ chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP, hữu cơ; hỗ trợ cấp mã số vùng trồng; hỗ trợ các cơ sở được cấp chứng nhận ISO, HACCP; hỗ trợ mua máy móc, thiết bị công nghệ cao chế biến sâu các sản phẩm trà; hỗ trợ kinh phí mua tem truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn mác sản phẩm trà; hỗ trợ kinh phí quảng cáo trên nền tảng số cho các chủ thể có sản phẩm OCOP tham gia gian hàng thương mại điện tử… Tổng kinh phí ngân sách Nhà nước hỗ trợ giai đoạn 2026-2030 khoảng 550 tỷ đồng…

Sử dụng thiết bị chế biến hiện đại trong chế biến chè tại HTX chè an toàn Khe Cốc, xã Vô Tranh. 
Ảnh: Hoàng Thảo Nguyên-TTXVN

Với việc triển khai chuyển đổi số đồng bộ, đến nay, trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, cây chè nói riêng ở Thái Nguyên đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế của sản phẩm chè. Ngành Nông nghiệp đã xây dựng phần mềm “ quản lý chất lượng nông sản Thái Nguyên” (https://qlclnongsan.nnmtthainguyen.gov.vn/) với 533 tài khoản đăng ký sử dụng, 5.136 cơ sở được cập nhật, theo dõi, quản lý, chủ yếu là cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến chè, 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400 ha, tạo lập 74 sổ nhật ký sản xuất, cập nhật thông tin 87 sản phẩm. Tỉnh tích cực hỗ trợ tiêu thụ nông sản trên các sàn thương mại điện tử, livestream bán sản phẩm thông qua các trang mạng xã hội. Hiện đã có trên 200 nghìn hộ sản xuất nông nghiệp ở Thái Nguyênđược tạo tài khoản để đưa sản phẩm lên giao dịch trên sàn thương mại điện tử (Postmart.vn; Voso.vn...) với trên 3.000 sản phẩm. 80% hợp tác xã, doanh nghiệp áp dụng truy xuất nguồn gốc sử dụng mã QR để minh bạch thông tin giúp người tiêu dùng có thể dễ dàng tra cứu các thông tin liên quan đến cơ sở sản xuất, vùng nguyên liệu, quy trình chế biến, tiêu chuẩn chất lượng.

Ngành Nông nghiệp thí điểm triển khai hoàn thiện cơ sở dữ liệu tại 6 doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh chè thực hiện kết nối dữ liệu lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường với 42 sản phẩm trà. Trong năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh Thái Nguyên phấn đấu đưa 100% các sản phẩm OCOP 4 sao và 5 sao lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường... Công tác nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ cùng với chuyển đổi số trong phát triển ngành chè thời gian qua đã được triển khai tương đối đồng bộ, toàn diện, gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm chè Thái Nguyên...(https://qlclnongsan.nnmtthainguyen.gov.vn/) với 533 tài khoản đăng ký sử dụng, 5.136 cơ sở được cập nhật, theo dõi, quản lý, chủ yếu là cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến chè, 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400 ha, tạo lập 74 sổ nhật ký sản xuất, cập nhật thông tin 87 sản phẩm.

Tỉnh tích cực hỗ trợ tiêu thụ nông sản trên các sàn thương mại điện tử, livestream bán sản phẩm thông qua các trang mạng xã hội. Hiện đã có trên 200 nghìn hộ sản xuất nông nghiệp ở Thái Nguyên được tạo tài khoản để đưa sản phẩm lên giao dịch trên sàn thương mại điện tử (Postmart.vn; Voso.vn...) với trên 3.000 sản phẩm. 80% hợp tác xã, doanh nghiệp áp dụng truy xuất nguồn gốc sử dụng mã QR để minh bạch thông tin giúp người tiêu dùng có thể dễ dàng tra cứu các thông tin liên quan đến cơ sở sản xuất, vùng nguyên liệu, quy trình chế biến, tiêu chuẩn chất lượng.

Vùng sản xuất chè an toàn Cầu Đá, xã La Bằng. 
Ảnh: Hoàng Thảo Nguyên-TTXVN

Ngành Nông nghiệp thí điểm triển khai hoàn thiện cơ sở dữ liệu tại 6 doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh chè thực hiện kết nối dữ liệu lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường với 42 sản phẩm trà. Trong năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh Thái Nguyên phấn đấu đưa 100% các sản phẩm OCOP 4 sao và 5 sao lên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường... Công tác nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ cùng với chuyển đổi số trong phát triển ngành chè thời gian qua đã được triển khai tương đối đồng bộ, toàn diện, gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm chè Thái Nguyên...

Ông Dương Sơn Hà, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên cho biết: Chất lượng chính là giấy thông hành để chè Thái Nguyên bước vào những thị trường khó tính và giữ vững vị thế thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Để nâng cao hơn nữa chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè, trong thời gian tới, tỉnh Thái Nguyên tăng cường quản lý, giám sát vùng nguyên liệu; cấp, quản lý mã vùng trồng; giám sát sử dụng vật tư nông nghiệp, hoá chất từ khâu sản xuất ban đầu, tiếp tục hỗ trợ xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ…; hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến HACCP, ISO… trong sản xuất, chế biến chè. Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu số thống nhất về ngành chè trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó mỗi vùng nguyên liệu, mỗi hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đều được định danh và cập nhật dữ liệu thường xuyên.

Đây sẽ là nền tảng quan trọng để hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, chính xác và có khả năng kết nối với các hệ thống dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, Thái Nguyên ổ chức liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp với đơn vị phân phối nhằm kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm giữ vững và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh đảm bảo dữ liệu được cập nhật trung thực, đầy đủ, minh bạch../.

Nguyên Hoàng

Tin liên quan

Xem thêm